Chùa Long Khánh – Đầm Dơi, Cà Mau

0
1523

Bản đồ đường đi

Chùa Long Khánh – Thị Trấn Đầm Dơi, Cà Mau là một ngôi chùa bình lặng nằm trong con đường nhỏ xuống bờ sông. trên tuyến đường Cà Mau – Đầm Dơi, cách Thị Trấn Đầm Dơi khoảng 2km.

Sân chùa Long Khánh

Cổng chính của chùa hướng xuống dòng sông bốn mùa nước chảy yên bình, phong cảnh chùa rất bình dị nhưng không kém phần tôn nghiêm. Giữa sân là tượng Phật Bà Quan Âm cưỡi trên mình rồng được chạm khắc tỉ mỉ.

Tương Phật trong Chùa Long Khánh

Bên trái là Miếu thờ Ngũ hành Nương Nương cầu cho mưa thuận gió hoà. Cạnh tượng Phật Bà Quan Âm là tượng Phật trong tư thế nằm.

Chánh điện được đặt trang trọng tại nơi cao nhất trong chùa. Giữa đường lên chánh điện là tượng Phật Di Lặc tươi cười. Án ngữ trước cửa chính điện là tượng hai hộ pháp uy nghiêm.

Dưới sân bên phải là gốc bồ đề cổ thụ rất lớn toả bóng mát khắp sân chùa. Nhìn tổng thể, chùa không rộng lắm, nhưng mát mẻ, tạo cho ta cảm giác nhẹ nhàng, thanh thoát, dịu êm.

Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về kinh phí, nhưng với quyết tâm của Ban trị sự chùa, Long Khánh Tự ngày càng được chỉnh trang, xinh đẹp, là nơi sinh hoạt tôn giáo của nhân dân Đầm Dơi và là điểm đến của du khách thập phương.

Hãy một lần đến Long Khánh Tự để cảm nhận được nét mộc mạc của một ngôi chùa trong cảnh làng quê yên bình, êm ả. Nghe tiếng chim kêu, nước chảy quên đi mọi ưu phiền trong cuộc sống.


LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CHÙA LONG KHÁNH – ĐẦM DƠI

Ông Phạm Văn Như, sinh năm Nhâm Thìn (1812) bên bờ Sông Vệ, huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Nghĩa (nay là tỉnh Quảng Ngãi). Thuở thiếu niên, ông là người hiếu học, ông học giỏi chữ Hán, chữ Nôm và theo học chữ Phạn với các nhà sư ở Chùa Long Khánh, Long Vân. Về sau ông theo học nhà sư Long Thiền (nhà sư này quê ở Mộ Đức, là người đồng tâm với ông).

Sư Long Thiền tên thật là Phạm Văn Đạt là người văn hay, chữ tốt và am hiểu nhiều về các âm luật trong các môn lễ tế, lễ phật cũng như sử dụng nhiều loại nhạc cụ phục vụ trong các ngày lễ. Các môn học theo học ở ông đều là những nhà sư đạo cao, đức trọng sau này.

Năm 1842, ông Phạm Văn Như theo nhà sư Long Thiền cùng các vị khác vào Nam theo đường biển, lúc ấy ông đem theo vợ và 5 người con. Khi đến Bến Tre, nhà sư Long Thiền và các nhà sư khác ở lại cất am tu hành. Riêng gia đình ông xuôi tàu về Bãi Sao (Sóc Trăng ngày nay). Không bao lâu ông đem cả gia đình về U Minh sinh sống.

Năm 1875, con trai ông là Phạm Văn Độ có kết nghĩa với ông Phủ Tư (ông này là quan phủ Cà Mau), có nhà ở Tân Duyệt, Đầm Dơi. Ông thấy  đất đai ở Đầm Dơi hoang sơ, ít người khai phá lại màu mỡ nên bàn với ông Phạm Văn Độ  mời ông Phạm Văn Như về đây sinh sống.

Năm 1860, ông dời nhà về ngả ba Tân Duyệt, Đầm Dơi khai hoang, mở đất, cất nhà sinh sống, đồng thời cũng dựng một am bên bờ sông Đầm Dơi để tu hành, cái am này là tiền thân của Chùa Long Khánh.

Năm 1864, ông Phủ Từ họp làng cùng các ông: Nguyễn Văn Sen (Ông Cả Sen), ông Nguyễn Văn Tiển (ông Cả Tiển) và một số nhân sĩ địa phương quyên tiền bạc cùng nhau xây dựng chùa. ông Cả Sen và ông Cả Tiển hiến 100 công đất để vừa cất chùa vừa cho chùa làm ruộng hoặc cho thuê để lập ấm hương quả cho chùa. Sau 11 năm, chùa xuống cấp.

Năm 1875, khi kinh tế vùng Cà Mau phát triển ông Trần Văn Từ (ông Phủ Từ) cùng ông Phạm Văn Độ, ông Cả Sen, ông Cả Tiển và một số hương chức lại cùng nhau tiếp tục bàn bạc, xây dựng chùa lớn hơn bằng gạch dại, gạch tiểu, nền cẩn đá theo kiểu mai qui.

Ông Phạm Văn Độ được cử ra kinh thành Huế, người đi theo đường Bến Tre để ra Huế đặt đúc tượng phật, chuông đồng. Thời gian chuẩn bị và xây dựng khá lâu dài, mãi đến năm 1885 ngôi chùa mới được xây xong.

Năm 1886, ông dựa vào mối quan hệ với sư Tâm Định ở Bến Tre để theo đoàn ghe của sư Tâm Định thỉnh phật về. Hành trang là hai quả chuông đồng (một quả có đường kình 80cm, một quả có đường kính 40cm).

Đoàn ghe về ngang Quảng Nam, ông nhờ sư Tâm Định ghé lại cho ông thỉnh thêm Phật Di Lặc và mua một số nhạc cụ, một số đồ gốm để dùng trong những ngày lễ phật, .v.v.

Cuối năm 1886, chùa Long Khánh đã hoàn thành, với mái ngòi đỏ tươi đứng sừng sững trên mảnh đất cuối trời Nam tổ quốc mà ông Cả Sen, ông Cả Tiến đã hiến cho chùa, ngôi chùa mới khang trang nằm cách ngôi chùa cũ khoảng 150m.

Khi lập chùa xong các con của ông Phạm Văn Như đã trưởng thành, ông quyết định về làm trụ trì chùa Long Khánh theo lời đề nghị của ông Phủ Từ và các hương thân trong làng (lúc bấy giờ ông đã 74 tuổi).

Con trai út của ông Phạm Văn Như là ông Phạm Văn Độ kế tục, ông Độ trụ trì chùa Long Khánh cùng các vị sư khác trong làng. Ông thường lui tới Quan Âm Cổ Tự đàm luận kinh phật cùng sư Thiện Tường và thỉnh thoảng sư Thiện Tường cũng về chùa Long Khánh trong những ngày lễ Phật Đản hay ngày rằm để cùng ông và các ông Lê Văn Viết (ông sư Viết), ông Hào Tại đàm đạo phật lí.

Trong thời gian này, ông Phạm Văn Độ truyền đạo lại cho con là ông Phạm Văn Học (sư Hượt), các cháu là: ông Phạm Văn Thiểu, ông Phạm Văn Mão, ông Phạm Văn Hinh, ông Phạm Văn Tỵ, ông Lê Văn Lý và ông Trưởng Vuông.

Năm 1918 ông mất, con ông là Phạm Văn Học (tức ông Sư Hượt) lên thay ông làm trụ trì chùa Long Khánh, ông Phạm Văn Học mất, ông Phạm Văn Thiểu  (sư Thiểu) lên thay (từ năm 1940 – 1953).

Cho đến năm1954, giặc Pháp ném bom làm sập chùa, lúc này em ruột ông Phạm Văn Học là ông Phạm Văn Út cùng các ông Tiêu Hùng Phi, ông Nguyễn Văn tập, ông Lê Văn Giáo cùng một số dân trong làng dựng lại ngôi chùa (ngôi chùa mới được dựng lại bằng gỗ). Chùa mới do ông Phạm Văn Lâu và Cô Hai Vải thay nhau chăm lo, việc nhang đèn cho chùa do ông Từ Bửu Hoà đảm nhận (ông Từ Bảo Hoà sau này mất ở chùa Cà Mau).

Cuối năm 1958 đầu năm 1959, quận trưởng Nguyễn Ngọc Thắng dụ dân trong quận cất chùa bằng xi năng nhằm dụ dỗ nhân sĩ trong làng ra lập chùa để bắt một số cán bộ cách mạng còn ở lại Miền Nam.

Quận trưởng Nguyễn Ngọc Thắng lấy cớ tổ chức rước tượng phật ở Sài Gòn về và tổ chức Lễ Phật Đản (mùng 8 tháng 4) có mời thầy ở Sài Gòn về truyền giáo, qua đợt này tên Thắng đã ra lệnh bắn và bắt giam hàng trăm người dân yêu nước dẫn đến chùa vắng tanh, không còn ai nhang khói.

(Hôm rước thầy ở Sài Gòn – có sư về chùa Long Khánh dạy đồng nhi ca bài ca có lời ca như sau:

“Hôm nay thầy về đây, chúng con xin kính chào thầy

Trong giờ phút sum vầy

Chúng con biết làm gì đây;

Chúng con nguyện tâm tịnh, diệt sân, si, tham, hận, ánh đạo hằng mong tiến đến dần”

Năm 1968, chiến trang ác liệt. Chỉ từ năm 1968 – 1972, ngôi chùa bị máy bay Mỹ ném bom nhiều lần vì cho rằng quân cách mạng làm công sự ẩn nấp tại đây để bắn vào Chi Khu Đầm Dơi.

Ngôi chùa 100 năm tuổi đã được các bậc tiền thân dầy công xây dựng sau nhiều lần trải qua mưa bom, bão đạn đã bị sập hoàn toàn và không còn tượng phật nào còn nguyên vẹn. Thứ nào còn nguyên thị bị địch xua quân đập phá, chỉ còn lại trên nền đất những viên gạch, ngói vỡ vụn từng mảnh nhỏ. Một khung cảnh mà ai ai nhìn thấy cũng phải đau lòng.

Tính từ năm 1860 – 1975, ngôi chùa đã trải qua 6 đời trụ trì:

 

  • Đời thứ I: Ông Phạm Văn Như (Từ 1860 – 1888)
  • Đời thứ II: Ông Phạm Văn Độ (Từ 1888-1918)
  • Đời thứ III: Ông Phạm Văn Học (sư Hượt) (Từ 1918-1940)
  • Đời thứ IV: Ông Phạm Văn Thiểu (Từ 1940 – 1953)
  • Đời thứ V: Ông Phạm Văn Tỵ (đạo Tỵ) (Từ 1953 – 1959)
  • Đời thứ VI: Ông Phạm Văn Lâu (đạo Lâu) (Từ 1959 – 1972)

Đây là lịch sử hình thành ngôi chùa từ thuở sơ khai có tên là Am Long Khánh cho đến khi trở thành một ngôi chùa khang trang, mái đỏ có tên là Long Khánh Tự.

  • Hiện nay: Trụ trì: Nhà sư Thích Nữ Như Trí
  • Ban trị sự chùa gồm các nhà sư:
    • Thích Pháp Khánh
    • Thích Nữ An Lạc
    • Thích Nữ Trung Thi
    • Thích Nữ Trung Thường

Thực hiện: thongtincamau.com

Xem video Chùa Long Khánh

GỬI PHẢN HỒI